Da vẽ nổi (Dermographism)
- Đại cương
Mày đay là một bệnh da phổ biến do sự hoạt hóa các tế bào Mastocyte ở da , bệnh là sự xuất hiện đột ngột, thoáng qua của sẩn phù (sẩn mày đay – Wheals, Hives), phù mạch (Angioedema) hoặc cả hai.
Da vẽ nổi là một trong những loại mày đay phổ biến xảy ra ở 4,2% dân số. Nó cũng được gọi là bệnh dermatographia hay dermatographic urticaria hay skin writing.
Đây là tình trạng xảy da do phản ứng bùng phát quá mức của da sau khi da bị vạch hoặc cào xước gây ra các đường thẳng hoặc vết đỏ phù nề, rất ngứa, mất đi sau 30 do sự kết hợp của áp lực và lực cắt và có thể xuất hiện ở nhiều người khỏe mạnh.
Nguyên nhân gây ra chứng da vẽ nổi vẫn chưa được biết rõ, nhưng có thể liên quan đến nhiễm trùng, rối loạn cảm xúc hoặc thuốc.
Đây là nhóm bệnh lành tính, đáp ứng tốt với điều trị bằng các nhóm thuốc kháng Histamin.
- Nguyên nhân
Hiện nay chưa có bằng chứng cụ thể tìm nguyên nhân gây nên chứng vẽ da nổi.
Một số trường hợp có thể gây ra chứng vẽ da nổi dễ dàng: việc cọ xát quần áo hoặc ga trải giường có thể gây kích ứng da. Ở một số người, các triệu chứng xuất hiện trước khi bị nhiễm trùng, stress, rung động, tiếp xúc với lạnh hoặc dùng thuốc
- Dịch tễ
Da vẽ nổi có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Tuy nhiên bệnh thường có xu hướng khởi phát phổ biến hơn ở thanh thiếu niên và người trẻ tuổi.
Không có sự khác biệt về chửng tộc và giới tính về tần xuất bị bệnh.
Tình trạng xuất hiện bệnh liên quan với các bệnh da dị ứng khác hiện vẫn còn bàn cãi
Tỷ lệ mắc bệnh tăng lên khi mang thai (nhất là mang thai lần thứ hai), tiền mãn kinh và bệnh nhân bị bệnh Behçet.
Bệnh có thể kéo dài nhiều năm và có thể tự khỏi mà không cần chữa trị. 95% các trường hợp mãn tính không thể giải quyết triệt để được, đôi khi bệnh tự khỏi, đôi khi bị suốt đời.
- Cơ chế
Cơ chế chính xác của Da vẽ nổi vẫn chưa được biết.
Các giả thuyết được ủng hộ gồm có
Dưới tác dụng áp lực vật lý màng tế bào Mast dễ dàng bị phá vỡ giải phóng ồ ạt histamine và các chất hóa học trung gian tham gia vào phản ứng dị ứng mà không cần sự hiện diện của bất kỳ loại kháng nguyên nào.
Histamine gây giãn mạch cục bộ và tế bào viêm thoát mạch tiếp tục giải phóng ra các chất hóa học trung gian kích thích phản ứng viêm nội mô tại chỗ dẫn đến các phản ứng dị ứng tại da. Các triệu chứng của bệnh xuất hiện trong vòng vài phút, kèm theo cảm giác rát, và ngứa và thường biến mất trong vòng 15-30 phút mà không cần điều trị, nhưng trong một số trường hợp, ngứa đỏ có thể kéo dài từ vài giờ đến vài ngày.
- Triệu chứng
Thời gian mắc bệnh trung bình là 6,25 năm.
Ở hầu hết bệnh nhân có tình trạng bệnh diễn ra liên tục, nhưng khoảng 25% người bênh da vẽ nổi có giai đoạn hoàn toàn bình thường.
Mức độ nghiêm trọng được đánh giá là trung bình ở 45%, nghiêm trọng ở 33% và rất nghiêm trọng ở 6%.
Các triệu chứng này bao gồm: các triệu chứng nặng hơn vào buổi tối ở 81%; chất lượng cuộc sống bị suy giảm đáng kể ở 44%; không thể có cuộc sống bình thường 7%; căng thẳng gây ra các đợt cấp tính 44%; các dạng mày đay khác đồng tồn tại 21%.
Tiền sử gia đình được báo cáo ở 14%.
Hầu hết tất cả bệnh nhân đều dùng thuốc kháng histamin H1, 49% có cải thiện rõ rệt và 23% không còn triệu chứng
Các thể lâm sàng của chứng Da vẽ nổi
Da vẽ nổi tức thời
– Sẩn phù là các vết dạng đường thẳng và/ hoặc một vùng đỏ xung quanh vị trí xuất hiện ban đầu 1–3 phút sau khi cào xước hoặc cứa da mạnh bằng một vật gây áp lực mạnh vào da và biến mất trong vòng 30 phút, rất hiếm khi các triệu chứng kéo dài lâu hơn hoặc tồn tại đến vài ngày
– Có thể rất ngứa, ngứa vừa hoặc không.
– Các triệu chứng có thể nặng hơn buổi tối hoặc ban đêm
– Hiếm khi ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Trong một số trường hợp người bệnh có thể có rối loạn giấc ngủ và mệt mỏi.
– Thường biểu hiện tại da nhưng trong một số hiêm các trường hợp bệnh có thể gặp ở niêm mạc.
Da vẽ nổi thể ban đỏ
- Phản ứng với việc cọ xát thay vì gãi
- Được báo cáo ở 3% dân số nói chung với tỷ lệ phụ nữ trung niên chiếm ưu thế
Da vẽ nổi chậm
Khi thời gian xuất hiện và kéo dài triệu chứng 3–6 giờ sau, có thể xuất hiện thêm ở một vị trí khác và kéo dài tới 48 giờ
- Có liên quan đến tình trạng bỏng và phản ứng đau ở vết thương
Da vẽ nổi cholinergic
- Liên quan đến nhiệt độ cơ thể tăng cao thường kết hợp với mày đay cholinergic
- Sẩn phù dạng dải hoặc dạng đường thẳng đường kính 1-2mm
- Chẩn đoán
Chẩn đoán kết hợp giữa tiển sử bệnh, lâm sàng và các test thử nghiệm chẩn đoán gồm có:
Chẩn đoán chứng da vẽ nổi bằng dụng cụ đầu tù như thìa cùn, bút bị vẽ trên da. Trong vòng 10p xuất hiện sẩn phù dọc theo vị trí kích thích. Lực gây ra sẩn phù <36g/mm2
Fric test (công cụ có 4 răng chải) kích thích vào da, test dương tính nếu xuất hiện sẩn phù có chiều rộng 3mm trở lên trong vòng 10 phút sau khi làm test
Hiện tượng da vẽ nổi sau khi dùng bút bi vẽ vào mặt trong cẳng tay người bệnh. Nguồn: Bệnh viên Da Liễu Hà Nội
Sinh thiết da hiếm khi cần thiết ngoại trừ để phân biệt dermographism với mastocytosis. Mô học của dermographism không đặc hiệu với phù nề ở lớp hạ bì với các tế bào đơn nhân quanh mạch máu.
- V. Chẩn đoán phân biệt
- Mày đay do tì đè và mày đay tiếp xúc
- Dị ứng găng tay cao su
- Bệnh tế bào mast : Dấu hiệu rõ ràng của bệnh mày đay sắc tố và các bệnh tăng sinh tế bào mast khác ở da.
- Điều trị
Biện pháp chung
- Quần áo rộng rãi
- Tránh các tác nhân gây dị ứng như nước quá nóng hoặc chà xát khăn quá mạnh
- Điều trị các nguyên nhân liên quan nếu được xác định, chẳng hạn như ghẻ
- Tư vấn tâm lý, thuốc an thần, thuốc chống trầm cảm.
Các biện pháp điều trị cụ thể
- Kiểm soát triệu trứng bằng cách tránh tác nhân kích thich trên da.
- Thuốc kháng histamin H1 thế hệ thứ hai, không gây buồn ngủ như cetirizine hoặc loratadine có hiệu quả và được dung nạp tốt, có thể cần dùng liều cao và dài hạn. Ngược lại các thuốc kháng histamin H2 không có hiệu quả điều trị
- Liệu pháp quang học
- Các thuốc khác: Corticoid, leucotrien, olimazumab ít được khuyến cáo cho bệnh nhân chứng vẽ nổi đơn thuần không có biểu hiện nghiêm trọng. Trong đó: Omalizumab có tác dụng cải thiện bệnh về triệu trứng và thời gian bị bệnh
- Tiên lượng
Da vẽ nổi có thể kéo dài trong nhiều tháng hoặc nhiều năm
Với trường hợp Da vẽ nổi không xác định được nguyên nhân thời gian bị bệnh có thể lên tới 6 năm.
Dermographism thể ban đỏ có thể cải thiện trong vòng 6 tháng.
Da vẽ nổi liên quan đến tác nhân gây bệnh như ghẻ chỉ kéo dài vài ngày đến vài tuần.
Bệnh tiên lượng tốt: đa số tự khỏi.
- Phòng ngừa
Tránh các tác nhân gây kích thích cho da: không sử dụng hóa chất tẩy rửa, xà phòng vào da Mặc đồ làm bằng vải không gây ngứa. Không tắm nước quá nóng và không cào gãi da
Chăm sóc da nhẹ nhàng, giữ ẩm cho da: Sử dụng kem, sữa dưỡng hoặc thuốc dạng mỡ hàng ngày. Bôi thoa sản phẩm chăm sóc da khi da vẫn còn ẩm sau khi tắm rửa. Sử dụng lại trong ngày khi cần thiết.
Tài liệu tham khảo
- Church MK, Kolkhir P, Metz M, Maurer M. The role and relevance of mast cells in urticaria. Immunol Rev. 2018;282(1):232-247. doi:10.1111/imr.12632
- Zuberbier T, Aberer W, Asero R, et al. The EAACI/GA2LEN/EDF/WAO guideline for the definition, classification, diagnosis and management of urticaria. Allergy. 2018;73(7):1393-1414. doi:10.1111/all.13397
- Jedele KB, Michels VV. Familial dermographism. Am J Med Genet. 1991;39(2):201-203. doi:10.1002/ajmg.1320390216
- Dermographism. DermNet®. October 26, 2023. Accessed December 14, 2024. https://dermnetnz.org/topics/dermographism
- Kontou-Fili K, Borici-Mazi R, Kapp A, Matjevic LJ, Mitchel FB. Physical urticaria: classification and diagnostic guidelines. Allergy. 1997;52(5):504-513. doi:10.1111/j.1398-9995.1997.tb02593.x
- Wong RC, Fairley JA, Ellis CN. Dermographism: a review. J Am Acad Dermatol. 1984;11(4 Pt 1):643-652. doi:10.1016/s0190-9622(84)70222-2
- Ask MayoExpert. Pruritus without rash. Mayo Clinic; 2021.Dermatographia (Dermatographism) – Symptoms and causes. Mayo Clinic. Accessed December 14, 2024. https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/dermatographia/symptoms-causes/syc-20371411
- Kulthanan K, Ungprasert P, Tuchinda P, et al. Symptomatic Dermographism: A Systematic Review of Treatment Options. J Allergy Clin Immunol Pract. 2020;8(9):3141-3161. doi:10.1016/j.jaip.2020.05.016
- Taşkapan O, Harmanyeri Y. Evaluation of patients with symptomatic dermographism. J Eur Acad Dermatol Venereol JEADV. 2006;20(1):58-62. doi:10.1111/j.1468-3083.2005.01372.x




