KHÁI NIỆM, CĂN NGUYÊN VÀ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA VẢY PHẤN HỒNG
Khái niệm
Vảy phấn hồng là bệnh đỏ da bong vảy, có tính chất cấp tính, tự khỏi.
Bệnh gặp ở khắp nơi trên thế giới, thường ở trẻ lớn và người trẻ tuổi (10 – 35 tuổi), gặp cả ở nam và nữ nhưng tỷ lệ gặp ở nữ cao hơn nam. Tỷ lệ mắc bệnh khoảng 0,5 – 2%. Bệnh hiếm khi tái phát.
- Căn nguyên
Căn nguyên đến nay vẫn chưa rõ ràng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra bệnh có liên quan đến:
– Nhiễm trùng (vi khuẩn, nấm, virus), đặc biệt là HHV-6 & HHV-7. Ngoài ra có thể do HHV-8, CMV, EBV, H1N1, COVID-19,…
– Thuốc: thuốc ức chế men chuyển angiotensin, thuốc giảm đau chống viêm không steroid, hydrochlorothiazide, muối vàng, barbiturate không điển hình, D-penicillamine, imatinib, metronidazole, isotretinoin, clozapine, clonidine.
– Vaccine: BCG, H1N1, bạch hầu, đậu mùa, viêm gan B, phế cầu, COVID-19
Triệu chứng lâm sàng
- a) Thể điển hình:
– Tiền triệu: có thể gặp các triệu chứng gợi ý đến nguyên nhân virus như đau đầu, sốt, mệt mỏi, chán ăn, đau họng, hạch to và đau khớp.
– Dát Herald (tổn thương mẹ): là triệu chứng thường gặp, khởi phát cấp tính, xuất hiện đầu tiên. Tổn thương thường đơn độc, kích thước 2 – 5 cm, có hình tròn hoặc bầu dục, giới hạn rõ, màu hồng hoặc màu cá hồi, có vảy mỏng ở rìa tổn thương (dấu hiệu viền vảy), có xu hướng lành ở trung tâm. Vị trí thường gặp ở mạn sườn, lưng.
Dát Herald trong vảy phấn hồng (nguồn: Dermatology Care of Charlotte)
– Các tổn thương con: xuất hiện sau tổn thương tiên phát từ 2 ngày tới 2 tháng với đặc điểm tổn thương tương tự tổn thương mẹ nhưng kích thước nhỏ hơn (khoảng 0,5 – 1 cm). Vị trí: thường gặp ở thân mình, vùng ít tiếp xúc với ánh sáng, đối xứng tạo hình ảnh cây thông Noel. Tổn thương bùng phát và lan rộng theo hướng ly tâm, từ trên xuống trong vài ngày đến vài tuần.
Tổn thương thứ phát của vảy phấn hồng, tạo hình ảnh “cây thông Noel”
(nguồn: Carlos Jimenez, Research Gate)
Tổn thương dát hồng cam có viền vảy mỏng ở rìa tổn thương trong vảy phấn hồng (nguồn: Renaissance Dermatology Specialist Clinic)
– Cơ năng: có thể gặp ngứa ở các mức độ khác nhau.
– Tiến triển: Quá trình bong vảy hoàn tất và ban đỏ mờ dần. Đa số các tổn thương sẽ biến mất sau 2-12 tuần, một số trường hợp có thể lâu hơn 5-6 tháng. Bệnh thường khỏi hoàn toàn, hiếm khi tái phát. Có thể gặp tăng hoặc giảm sắc tố sau viêm.
– Biến chứng: Hầu hết các trường hợp đều lành tính, tuy nhiên đã có báo cáo về một số biến chứng:
+ Sinh non và thai lưu, đặc biệt trong 15 tuần đầu của thai kỳ
+ Phản ứng quá mẫn của da do tái hoạt động HHV-6 & HHV-7 kết hợp với việc dùng thuốc
+ Thay đổi sắc tố kéo dài
- b) Thể không điển hình (gặp khoảng 20%)
Dát Herald ở vị trí không điển hình: có thể gặp tổn thương dát Herald ở lòng bàn chân, với tổn thương thứ phát ở thân mình và các chi.
– PR thể khu trú: tổn thương khu trú ở tay, chân, hông, vai, nách, bẹn. Một số trường hợp phân bố ban không đối xứng, phân bố một nửa người.
– PR thể đảo ngược: tổn thương ở vùng nếp gấp (nách, bẹn, cổ) và đầu cực.
– PR thể đầu cực: tổn thương là các dát đỏ bong vảy điển hình nhưng khu trú ở đầu cực (bàn tay, bàn chân, cổ tay, cổ chân), không có tổn thương ở nếp gấp (cổ, nách, bẹn).
– PR thể xuất huyết: tổn thương là các ban xuất huyết ở các vị trí khác nhau, có thể kết hợp với các tổn thương khác trong thể điển hình.
– PR thể mày đay: tổn thương dạng sẩn phù với phân bố tương tự như PR thể điển hình.
– PR thể giống hồng ban đa dạng: tổn thương điển hình của PR có thể kèm theo một số tổn thương hình bia bắn.
– PR thể sẩn: tổn thương là các sẩn đường kính 1 – 3 mm với viền vảy ở ngoại vi, phân bố tương tự PR thể điển hình.
– PR thể mụn nước: tổn thương cơ bản là mụn nước 2 – 6 mm đường kính, ở ngoại vi dát đỏ bong vảy, phân bố lan tỏa kèm theo ngứa nhiều.
– PR thể khổng lồ của darier: đường kính của dát Herald lớn hơn bình thường, thường được so sánh với kích thước của một quả lê.
– PR thể giảm sắc tố: tổn thương là các dát giảm sắc tố ngay từ lúc mới xuất hiện.
– PR thể kích ứng: bệnh nhân rất ngứa, đau kèm cảm giác bỏng rát.
– PR thể dai dẳng: khi bệnh kéo dài trên 3 tháng. 75% bệnh nhân có dát Herald kèm các triệu chứng toàn thân (mệt mỏi, đau dầu, mất ngủ), thường gặp cả tổn thương miệng (dát đỏ, sẩn đỏ, mụn nước, bọng nước, xuất huyết).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ môn Da liễu – Trường Đại học Y Hà Nội (2018). Bệnh học Da liễu – Tập 1. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
- Bệnh viện Da liễu Trung ương – Bộ Y tế (2024). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh da liễu. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
- Bệnh viện Da liễu Trung ương – Bộ Y tế (2019). Hình ảnh lâm sàng, chẩn đoán và điều trị trong chuyên ngành da liễu – Tập 1. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
4. Oakley A., Seebacher N. & Mitchell G. (2021). Pityriasis rosea. DermNet. https://dermnetnz.org/topics/pityriasis-rosea




