CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ VẢY PHẤN HỒNG

Vay Phan Hong

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ VẢY PHẤN HỒNG

 

Vảy phấn hồng (Pityriasis rosea – PR) là bệnh đỏ da bong vảy, có tính chất cấp tính, tự khỏi và hiếm khi tái phát. Bệnh thường gặp ở trẻ lớn và người trẻ tuổi (10 – 35 tuổi), nữ gặp nhiều hơn nam.

Căn nguyên của bệnh đến nay vẫn chưa rõ ràng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra bệnh có liên quan đến nhiễm trùng (virus đặc biệt là HHV-6 & HHV-7, vi khuẩn, nấm), một số loại thuốc và vaccine.

Triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh là dát Herald (tổn thương mẹ) khởi phát cấp tính, kích thước 2 – 5 cm, có hình tròn hoặc bầu dục, giới hạn rõ, màu hồng hoặc màu cá hồi, có vảy mỏng ở rìa tổn thương (dấu hiệu viền vảy), có xu hướng lành ở trung tâm, vị trí thường gặp ở mạn sườn, lưng. Sau đó 2 ngày tới 2 tháng xuất hiện các tổn thương con với đặc điểm tương tự tổn thương mẹ nhưng kích thước nhỏ hơn (0,5 – 1 cm), vị trí thường gặp ở thân mình, vùng ít tiếp xúc với ánh sáng, đối xứng tạo hình ảnh cây thông Noel. Tuy nhiên chẩn đoán bệnh đôi khi vẫn gặp khó khăn do tổn thương không điển hình, dễ nhầm lẫn với các bệnh khác.

Tổn thương dát hồng cam có viền vảy mỏng ở rìa tổn thương trong vảy phấn hồng (nguồn: Renaissance Dermatology Specialist Clinic)

 

  1. Chẩn đoán xác định:

Chẩn đoán xác định vảy phấn hồng dựa chủ yếu vào lâm sàng.

Năm 2013, Zawar và Chuh (Ấn Độ) đã đề xuất tiêu chuẩn chẩn đoán vảy phấn hồng như trong bảng sau:

Đặc điểm lâm sàngTiêu chuẩn
Thiết yếu (bắt buộc có)– Tổn thương hình tròn hoặc bầu dục riêng biệt

– Có vảy da trên hầu hết các tổn thương

– Viền vảy ở ngoại vi & trung tâm lành ở ít nhất 2 tổn thương

Tùy chọn (cần có ít nhất một)– Phân bố ở thân mình và gốc chi (10% tổn thương phân bố xa hơn ra giữa cánh tay và giữa đùi)

– Có dát Herald xuất hiện ít nhất 2 ngày trước các tổn thương con

– Hầu hết tổn thương nằm theo Langer’s lines (skin cleavage lines)

Loại trừ (không được có)– Ít nhất 2 tổn thương có nhiều mụn nước nhỏ ở trung tâm

– Ít nhất 2 tổn thương ở lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân

 

Một số trường hợp khó cần kết hợp thêm với cận lâm sàng:

– Mô bệnh học: không đặc hiệu, á sừng lan tỏa hoặc thành từng ổ, mất lớp hạt, tăng nhẹ lớp gai, có các ổ xốp bào, rải rác các tế bào dị sừng và bạch cầu ái toan. Xung quanh mạch máu và trung bì nông thâm nhiễm bạch cầu lympho, mô bào và có những đám hồng cầu thoát mạch. Các thương tổn tiên phát và thứ phát đều có chung hình ảnh mô bệnh học. Với thương tổn muộn, hình ảnh mô bệnh học khó phân biệt với vảy nến hay lichen phẳng.

– Dermoscopy: Hình ảnh các dát đỏ da màu hồng cam hình tròn, hình bầu dục ranh giới rõ, kích thước đa dạng, mạch máu dạng chấm phân bố không đồng đều, phía trên có bong viền vẩy da mỏng ở rìa tổn thương.

– Xét nghiệm máu tìm HHV6 (IgG hoặc PCR) không được chỉ định vì gần như 100% cá thể đã nhiễm virus này từ thời thơ ấu và các xét nghiệm thương mại hiện nay không đo được hoạt tính của HHV6.

– Xét nghiệm soi tươi tìm nấm: âm tính, sử dụng trong trường hợp cần chẩn đoán phân biệt với nấm da.

– Xét nghiệm huyết thanh học để loại trừ bệnh giang mai.

 

 

  1. Chẩn đoán phân biệt:

– Á vảy nến thể giọt hay vảy phấn dạng lichen mạn tính: tiến triển kéo dài, thương tổn nhỏ hơn, vảy da dày hơn, không có thương tổn tiên phát.

– Vảy nến thể giọt: thương tổn nhỏ, vảy da dày hơn và không mịn, sinh thiết giúp chẩn đoán xác định.

– Giang mai II: sẩn chắc, ít vảy, hay gặp thương tổn ở lòng bàn tay, bàn chân, xét nghiệm huyết thanh giang mai dương tính.

– Hồng ban đa dạng: tiền sử dùng thuốc.

– Chàm đồng tiền: mảng thương tổn thường hình tròn, không có viền vảy, có thể thấy mụn nước nhỏ li ti, sinh thiết thương tổn để chẩn đoán xác định.

– Nấm da: mụn nước, vảy da ở rìa thương tổn; cạo vảy da, nhỏ KOH 20%, soi tươi tìm thấy sợi nấm.

– Viêm da dầu: thương tổn khu trú ở vùng da đầu, trước xương ức, giữa 2 xương bả vai, vảy da ẩm, dính.

  1. Điều trị

3.1. Nguyên tắc điều trị

– Điều trị triệu chứng.

– Điều trị căn nguyên do virus nếu có.

– Đa số trường hợp không cần điều trị hoặc chỉ cần điều trị tại chỗ.

3.2. Điều trị cụ thể

– Tại chỗ: corticoid bôi (tùy mức độ tổn thương và ngứa), kết hợp dưỡng ẩm làm mềm da.

– Toàn thân: thuốc kháng virus, kháng sinh nhóm macrolid, corticoid đường toàn thân trong trường hợp cấp tính, lan rộng. Thuốc kháng histamin hỗ trợ khi ngứa nhiều.

– Liệu pháp ánh sáng: UVB dải hẹp trong thời gian ngắn.

  1. Phòng bệnh

– Nâng cao thể trạng, tránh nhiễm các loại virus.

– Khi có tổn thương: không chà xát, cào gãi.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ môn Da liễu – Trường Đại học Y Hà Nội (2018). Bệnh học Da liễu – Tập 1. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
  2. Bệnh viện Da liễu Trung ương – Bộ Y tế (2024). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh da liễu. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
  3. Bệnh viện Da liễu Trung ương – Bộ Y tế (2019). Hình ảnh lâm sàng, chẩn đoán và điều trị trong chuyên ngành da liễu – Tập 1. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.

4. Oakley A., Seebacher N. & Mitchell G. (2021). Pityriasis rosea. DermNet. https://dermnetnz.org/topics/pityriasis-rosea