Tin mới

Chịu trách nhiệm biên tập

Tin trước
27/11/2014
Phòng kế hoạch tổng hợp bệnh viện Da Liễu

Phòng kế hoạch tổng hợp bệnh viện Da Liễu

Phòng kế hoạch tổng hợp (KHTH) bệnh viện Da liễu Hà nội hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban giám đốc bệnh viện.
Bệnh trứng cá

Bệnh trứng cá

biến ở tuổi thiếu niên, sau dậy thì (80%) do họat động mạnh của hormone androgen. Tổn thương da của bệnh đa dạng, tùy mức độ nhẹ hay nặng mà...
Ban biên tập web - Thống kê truy cập
Ban biên tập Thống kê truy cập

Chịu trách nhiệm biên tập

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Nghiên cứu xác định sự hiện diện của Tụ cầu vàng ở thương tổn da trong viêm da cơ địa trẻ em

(Ngày đăng: 18/06/2013 15:14:15)
Nghiên cứu xác định sự hiện diện của Tụ cầu vàng ở thương tổn da trong viêm da cơ địa trẻ em
Viêm da cơ địa (VDCĐ) là bệnh viêm da mạn tính hay gặp ở trẻ nhỏ, tỷ lệ bệnh ở các nước đang phát triển chiếm từ 10- 20%.

XÁC ĐỊNH SỰ HIỆN DIỆN CỦA TỤ CẦU VÀNG Ở THƯƠNG TỔN DA

TRONG VIÊM DA CƠ ĐỊA TRẺ EM

Đàm Thị Thúy Hồng*

Nguyễn Duy Hưng**

 

TÓM TẮT

            Mục tiêu nghiên cứu: 1. Khảo sát sự hiện diện của tụ cầu vàng trên thương tổn da viêm da cơ địa trẻ em. 2. Đánh giá sự nhạy cảm của tụ cầu vàng với kháng sinh.

             Đối tượng và phương pháp: gồm 60 bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội  từ tháng 5-9/2009. Trong đó:

            - Nhóm nghiên cứu: 30 bệnh nhân gồm 19 nam và 11 nữ, tuổi <15 được chẩn đoán viêm da cơ địa (Atopic dermatitis) theo tiêu chuẩn của Hanifi và Rajka (1980).

            - Nhóm đối chứng: 30 bệnh nhân mắc một số bệnh da không liên quan đến bệnh dị ứng; gồm 16 nam và 14 nữ, tuổi < 15 đến khám tại bệnh viện trong cùng thời điểm.

            Kết quả nghiên cứu: tụ cầu vàng cư trú ở tổn thương viêm da cơ địa là 76,7%, trong khi đó ở nhóm da đối chứng chỉ là 30%. Tụ cầu vàng cư trú ở tổn thương giai đoạn cấp là 75% và ở mức độ nặng là 80%. Tụ cầu vàng nhạy cảm 100% với Vancomycin, 95,6% với Oxacillin, 82,6% với acid Fusidic. Với các loại kháng sinh khác như Ceftriaxone, Azithromycin, Amo-Clavulanic, Ampicillin và Penicillin sự nhạy cảm của TCV giảm hơn.

            Từ khóa: Viêm da cơ địa, tụ cầu vàng

            SUMMARY

DETERMINING THE APPEARANCE OF STAPHYLOCOCCUS AUREUS COLONIZATION IN SKIN LESIONS OF ATOPIC DERMATITIS CHILDREN

            Object: 1. Serveying the appearance of Staphylococcus aureus at skin lisions of atopic dermatitis children. 2. Evaluating the sensitization of Staphylococcus aureus to antibiotic.

            Subject and method: including 60 patients come to Hanoi Dermatological Hospital from May 2009 to September 2009. Object group: 30 patients, 18 men and 11 women under 15 years old are diagnosed as atopic dermatitis based on standard of Hanifi and Rajka. Control group: 30 patients, 16 men and 14 women under 15 years old suffered from some skin diseases without related to any allergy, come to hospital at the same time.

           Result and coclusion: Staphylococcus aureus colonizing in skin lesions of atopic dermatitisis 76,7%, mean while it is 30% of control group. Staphylococcus aureus colonizing in acut period is 75% and serious level is 80%. Staphylococcus aureus is sensitive to Vancomycin 100%, to Oxacillin 95,6%, to Acid fusidic 82,6%. The sensitization of Staphylococcus aureus decreases to other antibiotics as Ceftriaxone, Azithromycin, Amo-Clavulanic, Ampicillin and Penicillin.

            Keywords: Atopic dermatitis, Staphylococcus

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

          Viêm da cơ địa (VDCĐ) là bệnh viêm da mạn tính hay gặp ở trẻ nhỏ, tỷ lệ bệnh ở các nước đang phát triển chiếm từ 10- 20%.   Căn nguyên của bệnh rất phức tạp, cho đến nay người ta vẫn chưa biết một cách rõ ràng về sinh bệnh học của VDCĐ. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy VDCĐ là  hậu quả của sự tương tác giữa các gen mẫn cảm di truyền dẫn đến khiếm khuyết hàng rào da, khiếm khuyết hệ thống miễn dịch tự nhiên, tăng đáp ứng miễn dịch với các dị nguyên và các kháng nguyên vi sinh vật.

         Trong VDCĐ, tụ cầu vàng cư trú tại tổn thương da lên đến trên 90%, trong khi chỉ có khoảng 5% người không bị VDCĐ có tụ cầu vàng [8]. Chính sự cư trú thường xuyên của tụ cầu vàng đã cung cấp nguồn dị nguyên quan trọng làm cho bệnh xuất hiện, tiến triển nặng lên hoặc làm tăng nguy cơ  nhiễm trùng thứ phát trong VDCĐ. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu VDCĐ được công  bố ở các khía cạnh khác nhau cho thấy rằng tụ cầu vàng (TCV) có vai trò quan trọng trong nguyên nhân sinh bệnh của VDCĐ [1], [2], [5], [7].

          Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về VDCĐ... nhưng chưa có nghiên cứu nào về sự hiện diện của TCV ở thương tổn da VDCĐ  trẻ em. Nhằm góp phần tìm hiểu nguyên nhân VDCĐ, từ ý tưởng đó mà chúng tôi nghiên cứu đề tài nhằm mục tiêu:

1. Khảo sát sự hiện diện của TCV trên thương tổn da VDCĐ  trẻ em 2. Đánh giá sự nhạy cảm của  TCV với kháng sinh     

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 1. Đối tượng nghiên cứu: gồm 60 bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ 5-9/2009, trong đó:

- Nhóm nghiên cứu:  30 bệnh nhân gồm 19 nam và 11 nữ, tuổi <15 được chẩn đoán VDCĐ theo tiêu chuẩn của Hanifi và Rajka (1980)

- Nhóm đối chứng: 30 bệnh nhân mắc một số bệnh da không liên quan đến bệnh dị ứng; tuổi < 15 đến khám tại Bệnh viện trong cùng thời điểm.

Tất cả các bệnh nhân đều không sử dụng kháng sinh, corticoid và các thuốc ức chế miễn dịch  bằng đường bôi và toàn thân trong vòng 7 ngày

2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp tiến cứu, bệnh chứng so sánh. Các xét nghiệm nuôi cấy-kháng sinh đồ làm tại Khoa Xét nghiệm Viện Da liễu Quốc gia.

- Môi trường nuôi cấy: thạch máu, canh thang glucose

- Môi trường đặt khoanh giấy làm kháng sinh đồ:  thạch Mueller- Hinton của hãng BIO-RAD (Pháp)

- Khoanh giấy kháng sinh của hãng BIO-RAD: Gentamycin, Fusidic acid, Amo-Clavulanic, Ceftriaxon, Azithromycin, Chloramphenicol, Penicillin, Ciprofloxacin, Co-trimoxazole, Vancomycin và Oxacillin

* Phân loại giai đoạn bệnh:

      + Giai đoạn cấp: đỏ da, phù nề, mụn nước, chảy nước, vảy tiết

      + Giai đoạn mạn: dầy da, lichen hoá, sẹo, tăng sắc tố, xước da

      + Giai đoạn bán cấp: hình thái lẫn lộn của giai đoạn cấp và mạn 

* Đánh giá mức độ bệnh: phân mức độ bệnh dựa theo thang điểm SCORAD (Severe scores of atopic dermatitis) do Nhóm nghiên cứu châu Âu về VDCĐ (The European Tast Force on Atopic dermatitis) đưa ra [3]:

            Mức độ nhẹ (SCORAD < 25 điểm), mức độ trung bình (SCORAD từ 25-50 điểm), mức độ nặng (SCORAD > 50 điểm)

Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1. Phân bố theo tuổi của nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng

Tuổi

Nhóm nghiên cứu

(n=30)

Nhóm đối chứng

(n=30)

p

n

%

n

%

< 2 t

12

40

14

46,7

 

 

> 0,05

2-12 t

14

46,7

16

53,3

>12-<15 t

4

13,3

0

0

Tổng số

30

100

30

100

 

Bảng 2. Phân bố theo giới của nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng

 

Giới

Nhóm nghiên cứu

(n=30)

Nhóm đối chứng

(n=30)

 

p

n

%

n

%

Nam

19

63,3

16

53,3

 

> 0,05

Nữ

11

36,7

14

46,7

Tổng số

30

100

30

100

 

Bảng 3. Sự cư trú của tụ cầu vàng ở nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng

Nhóm

TCV(+)

TCV(-)

 

p

n

%

n

%

Nhóm nghiên cứu

(n= 30)

 

23

 

76,7

 

7

 

23,3

 

 

< 0,001

Nhóm đối chứng

(n= 30)

 

9

 

30

 

21

 

70

 

Bảng 4.  Phân bố sự cư trú tụ cầu vàng với mức độ bệnh trong nhóm nghiên cứu (n=23)

Mức độ bệnh

Nhẹ

Trung bình

Nặng

Tổng số

p

 

n

%

n

%

n

%

n

%

TCV (+)

3

60

16

80

4

80

23

76,7

 

>0,05

Tổng

5

100

20

100

5

100

30

100

 

Bảng 5. Phân bố sự cư trú của TCV (+) với giai đoạn bệnh trong nhóm nghiên cứu (n=23)

Giai đoạn bệnh

Cấp tính

Bán cấp

Mạn tính

Tổng số

p

n

%

n

%

n

%

n

%

TCV (+)

9

75

4

100

10

71,4

23

76,7

 

> 0,05

Tổng số

12

100

4

100

14

100

30

100

 

Bảng 6.  Kết quả KSĐ (n= 23)

 

Tên thuốc

Nhạy cảm

n

%

Penicillin

4

17,4

Amo- Clavulanic

6

26,1

Ampicillin

5

21,7

Ceftriaxon

11

47,8

Gentamycin

14

60,8

acid Fusidic

19

82,6

Chloramphenicol

12

52,2

Azithromycin

6

26,1

Ciprofloxacin

18

78,2

Co-trimoxazole

12

52,2

Oxacillin

22

95,6

Vancomycin

23

100

 

IV. BÀN LUẬN

1. Sự cư trú của TCV  ở nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng

          Trong nghiên cứu của chúng tôi, 76,7% bệnh nhân  VDCĐ có TCV cư trú ở tổn thương và 23,3% bệnh nhân không có TCV. Ở nhóm chứng, tỷ lệ TCV cư trú ở da chỉ là 30%. Kết quả này cho thấy tỷ lệ nhiễm TCV ở tổn thương bệnh nhân VDCĐ cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng, sự khác biệt này có ý ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Cơ chế  tăng cư trú TCV ở thương tổn da VDCĐ còn chưa rõ, tuy nhiên các nghiên cứu đã cho thấy các yếu tố góp phần tạo điều kiện cho TCV cư trú trên thương tổn da VDCĐ đó là suy giảm chức năng hàng rào da, giảm hàm lượng lipid, tăng kết dính TCV vào da do tăng fibrinogen và fibronectin, giảm sản sinh các peptid kháng khuẩn từ tế bào sừng. Sự cư trú của TCV đóng vai trò quan trọng trong VDCĐ bởi chúng  tiết ra các siêu kháng nguyên như siêu kháng nguyên độc tố ruột enterotoxin A, enterotoxin B và độc tố 1 gây hội chứng sốc nhiễm độc. Các siêu kháng nguyên này được chứng minh là có khả năng gây viêm da nhờ kích hoạt các tế bào lympho T lớn hơn rất nhiều so với kháng nguyên thông thường do chúng gắn trực tiếp vào tế bào lympho T mà không qua thực bào. Một nghiên cứu khác của Strange khi cho enterotoxin B tiếp xúc với  vùng da không có tổn thương của bệnh nhân VDCĐ và da của người khỏe mạnh  thì đều thấy xuất hiện đỏ da và mụn nước, trong đó một nửa số bệnh nhân VDCĐ có hiện tượng bùng phát bệnh ở nếp gấp khuỷu cùng bên với nơi bôi enterotoxin B . Nghiên cứu này cho thấy siêu kháng nguyên tụ cầu vàng có thể là nguyên nhân gây viêm da trong VDCĐ.

            Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ phát hiện TCV trên thương tổn thấp hơn so với các nghiên cứu của Abeck và Higaki [1], [7]. Có lẽ do chúng tôi đã loại những bệnh nhân uống và bôi kháng sinh trong vòng 7 ngày trước nghiên cứu, còn các nghiên cứu khác như Abeck [1] thì loại những bệnh nhân uống kháng sinh trong vòng 1 tháng và bôi kháng sinh trong vòng 2 tuần nên kết quả của chúng tôi thấp hơn. Mặt khác, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là bệnh nhân VDCĐ trẻ em, trong khi các nghiên cứu khác  như của Higaki nghiên cứu trên đối tượng bệnh nhân VDCĐ người lớn [7].

          Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương với nghiên cứu của  Farajzadeh [4]  và Goh [5] vì theo các tác giả này thì tỷ lệ TCV (+) ở vùng tổn thương là 69,7% và 66%; tuy nhiên kết quả của chúng tôi cao hơn so với Gong JQ [6] tỉ lệ TCV(+) ở  da thương tổn  là 59,6%.

Mặc dù tỉ lệ TCV khu trú trên da có khác nhau theo từng tác giả, nhưng nhìn chung, tất cả đều cho thấy sự cư trú của TCV ở tổn thương da trong VDCĐ cao hơn rất nhiều so với vùng da không tổn thương và da của người bình thường. Điều này chứng tỏ da vùng tổn thương trong VDCĐ là môi trường thuận lợi để cho TCV cư trú.

        2. Sự cư trú tụ cầu vàng với mức độ bệnh trong nhóm nghiên cứu 

            Nghiên cứu sự cư trú của TCV ở tổn thương với mức độ bệnh (bảng 3.16) cho thấy, nhóm bệnh nặng có tỷ lệ TCV(+) chiếm 80%, gần tương đương với kết quả nghiên cứu của Farajzadeh [4] là 90%, nhưng thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Goh [5], Higaki [7] trên nhóm bệnh nặng TCV (+) tồn tại là 100%.

           Đánh giá sự cư trú của TCV với từng mức độ bệnh nhẹ, trung bình và nặng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê p> 0,05. Trong khi đó hầu hết các tác giả đều cho rằng sự cư trú của TCV ở thương tổn da VDCĐ có tương quan với mức độ nặng của bệnh [4], [5], [7]. Sở dĩ kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn các tác giả trên có lẽ là do trong tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu chúng tôi đã loại trừ những bệnh nhân VDCĐ bội nhiễm, trong khi các nghiên cứu của các tác giả trên chọn cả bệnh nhân VDCĐ và VDCĐ bội nhiễm.

        3. Sự cư trú của TCV với giai đoạn bệnh trong nhóm nghiên cứu:

             Khi nghiên cứu về sự cư trú của TCV với giai đoạn bệnh chúng tôi  nhận thấy sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê p >0,05. Kết quả cho thấy, TCV(+) ở giai đoạn cấp là 75%, kết quả này tương đương với nghiên cứu của Goh và cs là 69,7% nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Leyden (80-100%) [8]. Ở giai đoạn mạn tính, trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ TCV (+) là 71,4%, kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Leyden (81%) [8] nhưng cao hơn so với Goh (42%) [5].

       4. Sự nhạy cảm của TCV với kháng sinh:

Kết quả kháng sinh đồ cho thấy, TCV nhạy cảm với Vancomycin, Oxacillin và acid Fusidic nhất (100%, 95,6% và 82,6%),  tiếp đến là Ciprofloxacin, Gentamycin và Chloramphenicol (78,2%, 60,8% và 52,2%), sau đó là Ceftriaxon (47,8%). Azithromycin, Amo-Clavulanic, Ampicillin và Penicillin  (26,1%, 26,1%, 21,7 % và 17,4%) là thuốc ít tác dụng nhất với TCV.

Tỷ lệ kháng sinh nhạy cảm với TCV ở các nghiên cứu đưa ra là khác nhau. Nghiên cứu  của Higaki [7] tại Nhật bản thấy Vancomycin và Minocyclin có tác dụng tốt nhất và Ampicillin là có tác dụng kém nhất, kết quả chúng tôi cũng có nhận xét tương tự. Kết quả nghiên cứu TCV kháng Penicillin của chúng tôi là 82,6%, kết quả này cũng gần tương đương với nghiên cứu của Goh (87%) [5]. Tỷ lệ TCV nhạy cảm với acid Fusidic trong nghiên cứu của chúng tôi là 82,6%, tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của J.Cork là 98% [2]. Mặc dù vậy, trong điều trị VDCĐ vẫn nên sử dụng kháng sinh và tốt nhất là dựa vào kháng sinh đồ. Nếu không có điều kiện làm kháng sinh đồ thì nên lựa chọn những kháng sinh nhạy cảm với TCV như Vancomycin, Oxacillin,  acid Fusidic.

V. Kết luận

  - Tụ cầu vàng cư trú ở da tổn thương VDCĐ là 76,7%, trong khi ở da nhóm đối chứng chỉ là 30%.

  - Tụ cầu vàng cư trú ở giai đoạn cấp là 75% và ở mức độ nặng là 80%.

  - Tụ cầu vàng nhạy cảm 100% với Vancomycin, 95,6% với Oxacillin, 82,6% với acid Fusidic. Với các loại kháng sinh khác như Ceftriaxon, Azithromycin, Amo-Clavulanic, Ampicillin và Penicillin sự nhậy cảm của TVC giảm hơn.

 

Tài liệu tham khảo

 

1. Abeck D., Menpel M. (1998), "Staphylococcus aureus colonization in Atopic dermatitis and therapeutic implications", Br J Dermatol, 139,p: 13-16

2. Cork M.J. (1996), "The role of Staphylococcus aureus in atopic eczema: treatment strategies", J Europ Acad. Dermato-Venerology,(Suppl.1), p: 31-37

3. Euopean Tast Force on Atopic dermatitis. (1993), "Severity Scoring of Atopic dermatitis; the SCORAD index", Dermatology, 186, p: 23-31

4. Farajzadeh, Rahnama Z., Ghavidel B. (2007), "Bacterial colonization and antibiotic resistance in children with atopic dermatitis" 21th World congress of dermatology, Bueros Aires-Argentina,(2978).

 5. Goh C.L, Wong J.S., Giam Y.C. (1997), "Skin colonization of Staphylococcus aureus in atopic dermatitis patients seen at the National Skin Center, Singapore", Inter J Dermatol,36, p: 653-657

6. Gong J.Q, Lin L., Hao F., Zeng J.Q., Bi Z.G., Yi D., Zhao B. (2006), "Skin colonization by Staphylococcus aureus in patients with eczema and atopic dermatitis and relevant combined topical therapy: A double-blind multicentre randomized controlled trial", Br J Dermatol,155, p:680-7

7. Higaki S., Masaaki Morohashi, Takayoshi Yamagishi, et al .(1994), "Comparative study of Staphylococcus aureus from skin of atopic dermatitis patients and from healthy subjects", Inter J Dermatol, 38, p: 265-269.

8. Leyden J.J., Marples R.R., Kligman A.M. (1974), "Staphylococcus aureus in the lesions of atopic dermatitis", Br J Dermatol,90,p: 525-530

 

 

 

Lịch khám

     Ngày thường:

Sáng Từ: 7h – 11h30

Chiều Từ: 13h30 – 17h30

     T7, CN, Ngày lễ:

Sáng Từ  8h – 11h

Chiều Từ 14h – 17h

Giá dịch vụ khám chữa bệnh
Giá dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện Da liễu Hà Nội

Giá dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện Da liễu Hà Nội Theo nghị quyết số 13/2013/NQ-HĐND ngày 17/7/2013...

Quy trình khám bệnh
Quy trình khám bệnh
Hoạt động bệnh viện
  • Ảnh 27-2-2010
Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn hỗ trợ khách hàng
Tư vấn hỗ trợ khách hàng
0903 479 619
Link liên kết website
bộ  Y tếSở Y tế Hà NộiBệnh viện da liễu trung ươngHội tim mạch Việt NamTăng huyết áp Việt Nam
Đối tác 2Đối tác 3Đối tác 4Đối tác 5Đối tác 6Đối tác 7
 
 
 
 
Thiết kế website